'Giữ hồn’ na bở bằng kỹ thuật canh tác bền vững

Chăm cây như chăm con

Tại phường Bình Khê, cây na bở không chỉ là loại quả đặc sản mà còn là sinh kế của nhiều hộ dân. Để giữ được vị ngọt thanh, hương thơm đặc trưng, bí quyết không chỉ ở giống mà còn là phương pháp chăm sóc, đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ và cả một hành trình học hỏi không ngừng.

Với bà Bùi Thị Lời (khu Ninh Bình), người có hơn 16 năm gắn bó với na bở, mỗi gốc na trong vườn là "đứa con tinh thần" được theo dõi từng ngày. Trên diện tích 1 mẫu với hơn 200 cây na, bà duy trì thói quen thăm vườn đều đặn, quan sát từ lá non đến nụ hoa, phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường.

Những năm đầu, khi chưa nắm vững kỹ thuật, cây na bở từng khiến bà mất ăn mất ngủ vì sâu bệnh và tỷ lệ đậu quả thấp. Khác với na dai, na bở khó tính hơn, đòi hỏi sự chính xác trong từng khâu chăm sóc. Nhưng thay vì bỏ cuộc, bà chọn cách học hỏi kinh nghiệm từ sách báo, truyền hình, internet, đặc biệt từ chính những người đi trước.

Một trong những nguyên tắc bà rút ra là phải tuân thủ nghiêm ngặt thời điểm chăm sóc. Việc phun thuốc chỉ thực hiện vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu làm không đúng quy trình, nắng nóng có thể khiến hoa cháy, quả hỏng, coi như mất trắng cả vụ.

Không chỉ áp dụng phương pháp thủ công, gia đình bà đã đầu tư hệ thống máy phun với bể chứa lớn và đường ống dẫn khắp vườn. Sự thay đổi này không chỉ giúp tiết kiệm công lao động mà còn nâng cao hiệu quả phòng trừ sâu bệnh, đảm bảo độ phủ đồng đều.

"Cây na bở thường xuyên đối mặt với 4 loại sâu bệnh chính là rệp, nhện đỏ, nấm (đặc biệt là thán thư) và rệp sáp, trong đó rệp là nguy hiểm nhất. Khi bị rệp tấn công, lá bị ăn trụi, đọt non teo lại, cây mất khả năng ra hoa, đồng nghĩa với việc mất mùa", bà Lời chia sẻ.

Điều đáng nói là các sâu bệnh hại này không xuất hiện cùng lúc mà nối tiếp nhau, đòi hỏi người trồng phải có sự theo dõi liên tục. Xử lý rệp xong, nhện đỏ có thể bùng phát, sau đó là nguy cơ nấm bệnh khi thời tiết ẩm.

Thay vì phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật hóa học, bà Lời ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học trong phòng trừ sâu bệnh. Theo bà, các chế phẩm này vẫn đạt hiệu quả khoảng 50 - 60% trong xử lý nấm và rệp, đồng thời giúp gia đình yên tâm hơn khi đưa sản phẩm ra thị trường.

"Ăn ngủ" cùng cây na, hướng tới sản xuất bền vững

Không chỉ riêng bà Lời, nhiều hộ dân tại Bình Khê đã làm chủ kỹ thuật chăm sóc na bở. Điển hình như gia đình ông Bùi Xuân Hanh với 70 cây na giống bản địa. Không chỉ làm chủ kỹ thuật thụ phấn hay tạo tán, ông Bùi Xuân Hanh còn đặc biệt chú trọng công tác phòng trừ sâu bệnh theo hướng khoa học và bền vững.

Theo ông, khó khăn lớn nhất hiện nay là vùng trồng còn xen kẽ nhiều loại cây, quy mô nhỏ lẻ nên dịch hại rất dễ tái phát. Bọ trĩ có thể bay từ vườn này sang vườn khác, còn nhện đỏ phát tán theo gió. Chỉ cần một vài hộ xung quanh phòng trừ không đồng bộ, sâu bệnh sẽ nhanh chóng quay trở lại.

Từ thực tế đó, ông Hanh xây dựng lịch chăm sóc riêng cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây na. Vào tháng 3 - 4, trọng tâm là phòng trừ bọ trĩ, sang tháng 4 - 5 tập trung xử lý nhện đỏ và rệp sáp. Với các bệnh nấm như thán thư, đốm vòng, việc theo dõi nhiệt độ, độ ẩm được ông đặt lên hàng đầu nhằm phát hiện sớm và xử lý kịp thời.

Điều đáng chú ý là thay vì sử dụng các loại thuốc độc tính cao, ông ưu tiên lựa chọn các dòng thuốc bảo vệ thực vật thế hệ mới và chế phẩm sinh học nhằm hạn chế ảnh hưởng đến môi trường, nguồn nước và các loài thiên địch. “Phun thuốc không thể làm theo cảm tính mà phải bám sát nông lịch và ngưỡng phát triển của sâu bệnh”, ông chia sẻ.

Theo ông Hanh, muốn cây na khỏe phải chăm từ gốc. Ngay sau thu hoạch, vườn na được bổ sung đầy đủ đạm, lân, kali cùng các loại trung vi lượng để phục hồi dinh dưỡng.

“Người trồng na hiện nay không thể chỉ làm theo kinh nghiệm truyền thống mà phải nắm được kỹ thuật trong chăm sóc cây trồng nếu muốn nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững”, ông Hanh chia sẻ.

Nhờ "ăn ngủ" cùng cây na, gia đình ông Hanh đã làm chủ kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc, góp phần bảo tồn và phát triển giống na quý bản địa. Mỗi cây na cho khoảng 25kg quả/vụ, na loại 1 được gia đình ông Hanh bán tại vườn với giá 120.000/kg, mang lại thu nhập ổn định.

Theo bà Trần Thị Thêu, Phó Chủ tịch Hội Nông dân phường Bình Khê, na bở hiện là một trong những cây trồng chủ lực của phường với diện tích khoảng 65ha. Để hỗ trợ nông dân, Hội đã xây dựng các tổ liên kết sản xuất, tổ chức tập huấn kỹ thuật, đồng thời giải ngân nguồn vốn khoảng 2 tỷ đồng giúp bà con đầu tư chăm sóc vườn cây. Các nội dung tập huấn không chỉ dừng ở phân bón, thuốc bảo vệ thực vật mà còn mở rộng sang ứng dụng công nghệ như truy xuất nguồn gốc, tiếp cận thương mại điện tử...

Trong bối cảnh thị trường ngày càng khắt khe, việc chăm sóc cây na không chỉ dừng lại ở năng suất mà còn phải đảm bảo chất lượng và an toàn. Hiện Bình Khê có vùng na đạt tiêu chuẩn VietGAP, được cấp chỉ dẫn địa lý. Với năng suất trung bình 10 - 12 tấn và thu nhập khoảng 200 triệu đồng/ha, cây na đã và đang giúp nhiều hộ dân ổn định cuộc sống.

Theo Nguyễn Thành/ NNVN 

Các tin khác