TRANG CHỦ  GIỚI THIỆU  TIN TỨC  SẢN PHẨM  THỜI TIẾT  LIÊN HỆ 
Nông nghiệp đó đây
[ ]
Phục hồi nguồn gen, 'cứu' 2 giống nếp quý khỏi thoái hóa

Sau nhiều năm đứng trước nguy cơ thoái hóa, 2 giống nếp đặc sản của Quảng Ngãi là nếp ngự Sa Huỳnh và nếp cút đang dần được “đánh thức” nhờ những nỗ lực phục hồi nguồn gen bài bản. Không chỉ khôi phục lại hương vị đặc trưng, việc bảo tồn thành công còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp gắn với giá trị bản địa và sinh kế bền vững cho người dân.

Từng là niềm tự hào trong sản xuất và văn hóa ẩm thực, nếp ngự Sa Huỳnh hay còn gọi là “nếp tiến vua” nổi tiếng với hạt tròn, mẩy, màu vàng nhạt, độ dẻo cao và hương thơm lan tỏa. Với hàm lượng amylose thấp (chỉ khoảng 1,8 - 1,9%), giống nếp này tạo nên chất lượng đặc biệt, khó thay thế. Không chỉ mang giá trị ẩm thực, nếp ngự còn gắn với yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, từng được dùng làm lễ vật trong các dịp quan trọng.

Trong khi đó, nếp cút là giống nếp đặc sản phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng Tư Nghĩa (cũ), dù ít nổi tiếng hơn nhưng lại sở hữu những đặc tính riêng về hương vị, độ dẻo và khả năng thích nghi tốt với điều kiện canh tác địa phương. Đây cũng là nguồn gen quý đã được các nhà khoa học định danh, xây dựng hồ sơ di truyền phục vụ bảo tồn lâu dài.

Tuy nhiên, thực tế sản xuất nhiều năm qua cho thấy cả hai giống nếp này đều rơi vào tình trạng pha tạp, thoái hóa. Khảo sát của nhóm nghiên cứu Trường Đại học Quy Nhơn tại 120 hộ dân ở Đức Phổ và Tư Nghĩa cho thấy diện tích trồng ngày càng thu hẹp, năng suất thấp, nhiều đặc tính quý như mùi thơm, độ dẻo suy giảm rõ rệt.

Ông Nguyễn Hoành Sơn, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Phổ Châu thẳng thắn nhìn nhận: “Khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn giống không còn giữ được độ thuần như trước. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và giá trị thương phẩm, khiến người dân dần bỏ giống”.

Trước thực trạng đó, nhóm nghiên cứu do TS Nguyễn Thanh Liêm (Trường Đại học Quy Nhơn) chủ trì đã triển khai thu thập, đánh giá và phục hồi nguồn gen 2 giống nếp bản địa. Từ khoảng 200 mẫu giống thu thập được, nhóm tiến hành phân tích, sàng lọc và tuyển chọn các dòng ưu tú.

Kết quả, 4 dòng nếp ngự Sa Huỳnh và 4 dòng nếp cút có đặc tính di truyền ổn định đã được phục hồi thành công, đưa nguồn gen trở về gần với nguyên trạng ban đầu bằng công nghệ sinh học. Các giống sau phục hồi đạt độ thuần cao, khôi phục đầy đủ những đặc tính đặc trưng như mùi thơm, độ dẻo, đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu bệnh.

Đáng chú ý, nguồn giống sau phục hồi đạt tiêu chuẩn siêu nguyên chủng, đủ điều kiện đưa vào sản xuất đại trà. Đây được xem là bước đột phá quan trọng trong bảo tồn nguồn gen cây trồng bản địa vốn đang chịu nhiều áp lực từ biến đổi khí hậu và xu hướng canh tác hiện đại. Không dừng lại ở khâu phục hồi giống, nhóm nghiên cứu còn hoàn thiện quy trình canh tác phù hợp với từng giống nếp. Các mô hình trình diễn tại địa phương cho thấy hiệu quả rõ rệt cả về năng suất lẫn chất lượng.

Với nếp ngự Sa Huỳnh, năng suất tăng từ mức 180 - 200kg/sào lên 240 - 260kg/sào, mang lại thu nhập khoảng 4 - 5 triệu đồng mỗi sào. Thời gian sinh trưởng được rút ngắn, giúp nông dân chủ động hơn trong sản xuất. Đối với nếp cút, khi áp dụng kỹ thuật cấy thưa, cây sinh trưởng khỏe, ít sâu bệnh, năng suất đạt trên 35 tạ/ha. Nhiều hộ dân trực tiếp sản xuất ghi nhận chất lượng hạt gạo cải thiện rõ rệt, hạt đồng đều, giữ được hương vị đặc trưng vốn có.

Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, việc phục hồi và bảo tồn hai giống nếp quý không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn góp phần quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững. Khi nguồn giống được đảm bảo, người dân có thể yên tâm mở rộng sản xuất, hình thành vùng chuyên canh nếp đặc sản.

Đây cũng là cơ sở để xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của địa phương, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thực tế cho thấy, các sản phẩm nếp chất lượng cao luôn có chỗ đứng riêng, đặc biệt khi gắn với yếu tố bản địa và câu chuyện văn hóa.

Đề tài phục hồi nguồn gen nếp ngự Sa Huỳnh và nếp cút đã được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ngãi nghiệm thu với kết quả cao. Lãnh đạo ngành khoa học và công nghệ tỉnh cho biết sẽ tiếp tục hỗ trợ nhân rộng mô hình, đồng thời định hướng phát triển nếp cút thành sản phẩm OCOP trong thời gian tới.

Theo Lê Khánh/ NNVN 

Đầu trang Gởi E-mail Bản in
Các tin khác
  • Giống TBR85 bén rễ ở cánh đồng Lân Phong, mở triển vọng nâng tầm “quê lúa” Quảng Ngãi
  • Giống nuôi cấy mô - chìa khóa để sen Đồng Tháp vượt 'bão' bệnh hại
  • Liên kết trồng mía: Đột phá năng suất nhờ cơ giới hóa
  • Trồng nho chùm quả tha la quá trời, nông dân xã mới này của tỉnh Khánh Hòa "bán cảnh quan" mỏi tay
  • Một người Hải Dương, nay là Hải Phòng gây đàn dê, đàn hươu dày đặc, bán con nào lãi con đó, chả tốn mấy xu tiền cám
  • Đổi đời nhờ chăn nuôi gà an toàn sinh học
  • Bỏ lương giám đốc, trai họ Nguyễn về quê Nghệ An làm trang trại đẹp như phim, tự trả lương "khủng" cho chính mình
  • Trồng dưa lưới công nghệ cao trên vùng cát trắng
  • Chủ động ứng phó thời tiết và sinh vật gây hại cây trồng vụ đông xuân
  • Giải bài toán dịch bệnh và môi trường bằng mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Trang chủ | Giới thiệu | Sản phẩm | Giỏ hàng | Liên hệ | Đầu trang
Copyright 2026 © KDT Group 2010