Cần làm gì để cứu 12 nhóm loài thủy sản bị Mỹ cấm xuất khẩu?

Từ ngày 01/01/2026, các quy định của Đạo luật Bảo vệ Động vật có vú biển (MMPA) của Hoa Kỳ chính thức có hiệu lực đối với hàng thủy sản nhập khẩu. Theo công bố ngày 26/8 vừa qua, Việt Nam nằm trong nhóm 34 quốc gia được xếp hạng tương đương một phần, đồng nghĩa với việc hoạt động xuất khẩu vẫn được duy trì nhưng phải tuân thủ các điều kiện giám sát nghiêm ngặt và yêu cầu về Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA).

Trước áp lực thời gian và những lo ngại của cộng đồng doanh nghiệp về nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng, Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Lê Trần Nguyên Hùng - Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư và ông Lê Hữu Tuấn Anh - Phó Trưởng phòng Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản (Cục Thủy sản và Kiểm ngư). Cuộc đối thoại tập trung vào các giải pháp kỹ thuật cụ thể để giải quyết những "điểm nghẽn" thực tế nhất.

Hóa giải nỗi lo hàng tồn kho

Mở đầu cuộc trao đổi, ông Lê Trần Nguyên Hùng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhấn mạnh: "Quy định MMPA không còn là cảnh báo xa vời mà đã trở thành hàng rào kỹ thuật thực tế. Phía Mỹ làm việc dựa trên bằng chứng và số liệu khoa học chứ không chấp nhận các cam kết chung chung. Do đó, việc nhận diện rõ 12 nhóm loài rủi ro và tuân thủ quy trình cấp COA là bước đi bắt buộc để minh bạch hóa dòng chảy thương mại, giúp tôm cá Việt Nam không bị 'tắc đường' sang Mỹ".

Vướng mắc lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp chế biến là xử lý các lô hàng nguyên liệu đã khai thác hoặc nhập khẩu trước ngày 01/01/2026 nhưng xuất khẩu sau thời điểm này. Nếu không có cơ chế chứng minh rõ ràng, nguy cơ hàng hóa bị ách tắc tại cảng là hiện hữu.

Giải đáp vấn đề này, ông Lê Hữu Tuấn Anh khẳng định mấu chốt nằm ở việc doanh nghiệp phải chứng minh được thời điểm khai thác hoặc thu mua nguyên liệu diễn ra trước khi Thông tư 74/2025/TT-BNNMT quy định chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ có hiệu lực ngày 26/12/2025.

Cụ thể, đối với các lô hàng có biên bản bốc dỡ hàng hóa qua cảng trước ngày 26/12/2025, doanh nghiệp cần nộp ngay biên bản này kèm hồ sơ. Tuy nhiên, thực tế nhiều doanh nghiệp thu mua nhỏ lẻ trực tiếp từ ngư dân hoặc các bến cá chưa có biên bản bốc dỡ quy chuẩn.

Để gỡ khó, ông Tuấn Anh hướng dẫn doanh nghiệp sử dụng hai loại giấy tờ thay thế để chứng minh tính lịch sử của lô hàng: (1) Hóa đơn tài chính (đối với giao dịch có xuất hóa đơn); (2) Bảng kê hàng hóa (đối với trường hợp mua trực tiếp từ người khai thác không có hóa đơn).

Ông Tuấn Anh lưu ý doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ trung thực, có giấy tờ nào nộp giấy tờ đó, tuyệt đối không được bỏ sót các chứng từ chứng minh mốc thời gian. Mục tiêu tối thượng là xác thực được nguồn gốc nguyên liệu đã nằm trong kho trước thời điểm hiệu lực của quy định mới để được hưởng cơ chế chuyển tiếp.

Quy trình cấp COA và cơ chế cho nguyên liệu nhập khẩu

Liên quan đến thủ tục cấp Giấy chứng nhận khả năng chấp nhận (COA), đặc biệt là tâm lý lo ngại của doanh nghiệp nuôi trồng về việc bị hệ thống máy tính phía Mỹ từ chối, đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã đưa ra hướng dẫn chi tiết.

Theo ông Lê Hữu Tuấn Anh, đối với sản phẩm nuôi trồng, trong biểu mẫu COA, tại các ô thông tin về ngư cụ, doanh nghiệp chỉ cần ghi mã AQ. Phần Quốc gia khai thác ghi Việt Nam và Khu vực khai thác ghi tên công ty hoặc cơ sở nuôi. Hệ thống nhập khẩu của Hoa Kỳ đã được lập trình để tự động nhận diện dựa trên mã HTS (biểu thuế hài hòa của Mỹ). Do đó, khi mã hàng khớp với danh mục nuôi trồng và có kèm COA hợp lệ, hàng hóa sẽ được thông quan ngay lập tức mà không cần qua các bước kiểm tra phức tạp như hàng khai thác.

Một điểm sáng trong chính sách mới được ông Tuấn Anh nhấn mạnh là quy định về quốc gia trung gian. Trước đây, phía Mỹ dự kiến chỉ cho phép quốc gia khai thác cấp COA, điều này sẽ gây khó khăn lớn cho các nước chế biến. Tuy nhiên, quy định hiện hành đã cho phép quốc gia trung gian như Việt Nam được quyền cấp COA cho cả nguyên liệu nhập khẩu từ nước khác về để chế biến. Đây là cơ chế tháo gỡ quan trọng cho các nhà máy chế biến sử dụng nguồn nguyên liệu ngoại nhập.

Để hỗ trợ xử lý sự cố, danh sách các cơ quan và người có thẩm quyền ký COA của Việt Nam đã được gửi sang Mỹ và niêm yết công khai trên trang của Cơ quan Khí quyển và Đại dương Mỹ (NOAA).

Nhận diện 12 nhóm loài rủi ro và chiến lược "Con ghẹ"

Bên cạnh thủ tục, MMPA tác động trực tiếp đến danh mục loài được phép xuất khẩu. Ông Lê Hữu Tuấn Anh liệt kê 12 nhóm loài hải sản của Việt Nam hiện nằm trong danh sách bị ảnh hưởng trực tiếp do chưa đạt tiêu chuẩn tương đương, một trong số đó bao gồm: cá mú, ghẹ, mực, cá hồng, cá nục heo, tôm hùm, cá cờ, cá kiếm, cá thu, cá ngừ mắt to...

Về phương thức khai thác, ông Lê Trần Nguyên Hùng chỉ rõ nghề đánh bắt bằng lưới rê (hay còn gọi là lưới cản) được xác định là rủi ro nhất do đặc tính giăng mắc trên mặt nước, dễ gây va chạm hoặc cản đường di chuyển của thú biển.

Để giảm thiểu thiệt hại kinh tế, ông Hùng cho biết ngành thủy sản đang chạy đua với thời gian để nộp hồ sơ dữ liệu bổ sung trước ngày 12/01/2026. Chiến lược hiện tại là tập trung nguồn lực để "giải cứu" từng đối tượng, trong đó ưu tiên hàng đầu là mặt hàng ghẹ. Theo ông Hùng, nếu chứng minh được nghề khai thác ghẹ an toàn và đưa mặt hàng này ra khỏi danh sách hạn chế, Việt Nam sẽ giữ vững được khoảng 62-70 triệu USD kim ngạch xuất khẩu, tương đương 50% tổng giá trị của nhóm các mặt hàng đang bị xem xét.

Tổ chức lại sản xuất cho tàu cá nhỏ

Đối với nỗi lo của ngư dân về việc tàu cá quy mô nhỏ (dưới 6m) có bị loại khỏi chuỗi cung ứng hay không, ông Lê Hữu Tuấn Anh khẳng định nhóm tàu này không bị ảnh hưởng nếu chỉ tiêu thụ nội địa phục vụ sinh kế. Tuy nhiên, nếu muốn tham gia xuất khẩu, ngư dân bắt buộc phải từ bỏ thói quen sản xuất manh mún.

Giải pháp được đưa ra là phải tổ chức lại theo mô hình liên kết hoặc tổ hợp tác. Sản phẩm khai thác từ các tàu nhỏ phải được tập kết về bến, có biên nhận bốc dỡ và xác nhận nguồn gốc tập trung. Chỉ khi minh bạch hóa quy trình thu mua, sản phẩm từ tàu nhỏ mới đáp ứng được yêu cầu truy xuất nguồn gốc của thị trường Mỹ.

Về dài hạn, ông Lê Trần Nguyên Hùng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp và quản lý dựa trên dữ liệu khoa học. Ngành thủy sản phải chứng minh được bằng số liệu thực tế rằng tỷ lệ đánh bắt không chủ ý nằm dưới ngưỡng cho phép thông qua các chương trình giám sát tàu cá và điều tra nguồn lợi. Đồng thời, các địa phương phải thực hiện nghiêm túc việc chuyển đổi nghề lưới rê sang các nghề khác theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đây là con đường duy nhất để nghề cá Việt Nam thích ứng bền vững với các rào cản kỹ thuật quốc tế.

Để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến quy định MMPA và thủ tục cấp COA, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đã thiết lập kênh tiếp nhận thông tin chính thức. Doanh nghiệp và bà con ngư dân cần hỗ trợ kỹ thuật hoặc giải đáp thắc mắc vui lòng liên hệ qua địa chỉ:

Email: nmpa.vietnam@gmail.com hoặc gửi câu hỏi trực tiếp cho NOAA (Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ). Các câu hỏi liên quan đến thẩm quyền Việt Nam sẽ được NOAA chuyển về Cục Thủy sản xử lý.

Danh sách 12 nghề cá không được công nhận tương đương với quy định MMPA của Mỹ gồm:

- Nghề cá mã 2932: nghề đánh bắt cá mú bằng lưới rê, lưới kéo đáy

- Nghề cá mã 2988: nghề đánh bắt cua ghẹ và giáp xác khác bằng lưới rê, lưới kéo, lưới bẫy/trạm.

- Nghề cá mã 2990: nghề đánh bắt mực nang, cá đáy, cá bơn, cá mú, cá đối, cá hồng, cá thờn bơn bằng lưới rê, câu vàng, lưới kéo.

- Nghề cá mã 2991: nghề đánh bắt cá nục heo bằng lưới rê, câu vàng (nghề cá nổi).

- Nghề cá mã 2992: nghề đánh bắt tôm hùm bằng lưới rê đáy.

- Nghề cá mã 2994: nghề đánh bắt cá thu bằng lưới rê, lưới vây.

- Nghề cá mã 3051: nghề đánh bắt cá thu bằng lưới rê, lưới vây.

- Nghề cá mã 3052: nghề đánh bắt cá đối bằng lưới rê đáy.

- Nghề cá mã 3054: nghề đánh bắt cá thu bằng lưới rê tầng giữa.

- Nghề cá mã 3057: nghề đánh bắt cá nổi, cá ngừ bằng lưới rê.

- Nghề cá mã 13124: nghề đánh bắt cá ngừ mắt to, ngừ vằn, ngừ vây vàng bằng lưới rê tầng giữa, lưới vây mặt nước.

- Nghề cá mã 13125: nghề đánh bắt cá cờ, cá kiếm bằng lưới rê tầng giữa, câu tay.

Theo Hồng Ngọc/ NNVN 

Các tin khác