Bèo hoa dâu - giải pháp cho thị trường phân bón đầy biến động

Nông dân dễ bị tổn thương nhất khi thị trường phân bón biến động

TS Phạm Gia Minh là người dịch cuốn “Câu chuyện bèo hoa dâu Azolla - một thông điệp từ tương lai” của hai nhà khoa học Anh Jonathan Bujak và Alexandra Bujak ra tiếng Việt và có công phổ biến, truyền cảm hứng về nó. Theo ông, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông làm thị trường phân bón thế giới biến động mạnh, việc khai thác các nguồn dinh dưỡng tự nhiên như bèo hoa dâu (Azolla) đang được nhiều chuyên gia xem là giải pháp sinh thái, giúp giảm chi phí, cải thiện đất và giảm phát thải khí nhà kính.

Trong khi đó, tập quán canh tác lúa tại Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào phân hóa học khiến nông dân dễ bị tổn thương nhất nếu thị trường phân bón biến động mạnh bởi các yếu tố chính trị, khủng hoảng năng lượng hay biến đổi khí hậu. Điều này đặt ra yêu cầu cần tìm kiếm các giải pháp sản xuất bền vững hơn, giảm phụ thuộc vào các đầu vào nhập khẩu.

Trong quá khứ, bèo hoa dâu từng là thành phần quen thuộc của hệ sinh thái ruộng lúa miền Bắc. Theo nhiều tài liệu nông học, loài thực vật thủy sinh này từng che phủ hơn 1,5 triệu ha ruộng lúa và góp phần tạo nên những cánh đồng đạt năng suất 5 - 7 tấn/ha ngay cả trong giai đoạn thiếu phân bón hóa học.

Bèo hoa dâu có khả năng cộng sinh với vi khuẩn lam Anabaena azollae giúp cố định nitơ từ khí quyển và chuyển hóa thành nguồn dinh dưỡng cho cây lúa. Nhờ đó, việc sử dụng bèo hoa dâu trong canh tác lúa nước có thể giảm đáng kể lượng phân đạm hóa học cần sử dụng.

Trong bối cảnh hiện nay, khi nông nghiệp đang hướng tới các mô hình sinh thái và giảm phát thải khí nhà kính, việc đánh giá lại giá trị của các phương pháp canh tác truyền thống như bèo hoa dâu là rất cần thiết, đặc biệt khi kết hợp với công nghệ nông nghiệp hiện đại.

Lợi ích cho quốc gia và lợi ích cho từng nông hộ

Theo các nghiên cứu và thực nghiệm canh tác lúa nước tại Việt Nam và một số quốc gia Châu Á, việc sử dụng bèo hoa dâu có thể giúp giảm khoảng 30% lượng phân urê mà vẫn duy trì năng suất lúa ổn định. Giả định lượng đạm bón trung bình cho lúa khoảng 120kg N/ha (tương đương khoảng 260kg urê/ha) và giá urê khoảng 10.000 đồng/kg, chi phí phân urê hiện nay sẽ vào khoảng 2,6 triệu đồng/ha.

Khi giảm 30% lượng urê nhờ sử dụng bèo hoa dâu, nông dân có thể tiết kiệm khoảng 0,78 triệu đồng/ha/vụ. Nếu áp dụng trên 1 triệu ha lúa, tổng chi phí phân bón tiết kiệm được có thể đạt khoảng 780 tỷ đồng mỗi vụ. Đây là con số đáng kể trong bối cảnh chi phí đầu vào trong nông nghiệp ngày càng gia tăng.

Không chỉ giảm chi phí phân bón, việc sử dụng bèo hoa dâu còn có thể góp phần giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa. Sự hiện diện của bèo hoa dâu trên mặt ruộng có thể giúp giảm phát thải methane (CH₄) khoảng 20 - 40%. Với mức phát thải trung bình của ruộng lúa khoảng 1,2 - 1,5 tấn CO₂e/ha/vụ, nếu giảm khoảng 30%, lượng giảm phát thải có thể đạt 0,36 - 0,45 tấn CO₂e/ha/vụ.

.Với giá tín chỉ carbon tự nguyện khoảng 10 USD/tấn CO₂e (tương đương khoảng 250.000 đồng), giá trị thu được có thể đạt khoảng 100.000 đồng/ha/vụ. Nếu triển khai trên 1 triệu ha, nguồn thu tiềm năng từ tín chỉ carbon nhờ bèo hoa dâu có thể đạt khoảng 100 tỷ đồng mỗi vụ. Đáng chú ý, thị trường tín chỉ carbon dựa trên các giải pháp tự nhiên (nature-based solutions) đang có xu hướng tăng trưởng mạnh. Một số dự báo cho rằng giá tín chỉ carbon từ các giải pháp sinh học có thể đạt khoảng 45 USD/tấn vào năm 2030.

Ngoài hiệu quả kinh tế trực tiếp, bèo hoa dâu còn mang lại nhiều lợi ích sinh thái cho đất nông nghiệp.

Ngoài một số nơi ở miền núi giữ được môi trường sinh thái trong ruộng lúa vẫn còn tồn tại bèo hoa dâu một cách tự nhiên, hiện đang có một số mô hình nuôi bèo hoa dâu làm dược liệu ở Thái Bình hay làm thức ăn cho thủy sản ở Hà Nội.

Khi phân hủy trong ruộng lúa, bèo hoa dâu cung cấp chất hữu cơ, các nguyên tố dinh dưỡng N, P, K và nhiều vi lượng quan trọng. Trong điều kiện thuận lợi, bèo hoa dâu có thể cố định khoảng 1.100kg nitơ/ha/năm. Nhờ đó, độ phì nhiêu của đất được cải thiện, cấu trúc đất tốt hơn và nhu cầu phân bón hóa học ở các vụ sau có thể giảm thêm 10 - 20%. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí mà còn tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp xanh - một trong những định hướng lớn của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Tổng hợp các yếu tố kinh tế trực tiếp, nếu triển khai mô hình bèo hoa dâu trên 1 triệu ha lúa trong một vụ, lợi ích ước tính bao gồm tiết kiệm 780 tỷ đồng chi phí phân bón/vụ, thu nhập 100 tỷ đồng từ bán tín chỉ carbon/vụ. Nếu áp dụng trên 2 vụ lúa mỗi năm, tổng lợi ích kinh tế có thể đạt khoảng 1.580 tỷ đồng/năm.

Ở cấp độ hộ gia đình, mỗi ha canh tác lúa với bèo hoa dâu phần lợi ích tăng thêm từ việc giảm chi phí phân bón có thể đạt khoảng 1,5 triệu đồng/năm (2 vụ), đó là chưa kể đến lượng phân bón sẽ giảm khoảng 10 - 20% ở vụ lúa sau. Trong xu hướng tăng giá phân urê liên tục và những lợi ích chưa đo đếm được về sức khỏe đất, cây trồng, môi trường sống, giá trị thương hiệu gạo hữu cơ, việc sử dụng bèo hoa dâu trong canh tác lúa là giải pháp cần được quan tâm.

Ngoài giá trị kinh tế, việc phục hồi và phát triển hệ thống canh tác lúa kết hợp bèo hoa dâu còn mang lại nhiều lợi ích vĩ mô: Giảm phụ thuộc vào phân bón nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, góp phần thực hiện cam kết giảm phát thải methane của Việt Nam tại COP26, cải thiện chất lượng đất và nước, thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói, để bèo hoa dâu có thể được ứng dụng rộng rãi trở lại, cần có chính sách nghiên cứu cơ giới hóa, tự động hóa quy trình canh tác và chế biến bèo. Xây dựng ngân hàng gen và tạo giống bèo chịu nhiệt, phù hợp với các vùng thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau ở Việt Nam. Hình thành thị trường tín chỉ carbon trong lĩnh vực canh tác lúa có kết hợp bèo hoa dâu. Thành lập các HTX, công ty chuyên làm dịch vụ nhân giống bèo để cung cấp cho hộ nông dân. Khuyến khích các trường đại học và viện nghiên cứu nông nghiệp triển khai mạnh các nghiên cứu ứng dụng bèo hoa dâu ở Việt Nam, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Trong bối cảnh nông nghiệp toàn cầu đối mặt với nhiều biến động khó lường, việc khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sinh học sẵn có như bèo hoa dâu có thể trở thành một hướng đi quan trọng để nâng cao tính tự chủ và bền vững của sản xuất lúa gạo Việt Nam.

Theo Dương Đình Tường/ NNVN 

Các tin khác